Home Blog Page 35

Chế độ tài sản chung của vợ chồng

0

Chế độ tài sản của vợ chồng có thể được hiểu như sau:

“ Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng thể các quy phạm pháp luật diều chỉnh về ( sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật”(Theo: “chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”- TS. Nguyễn Văn Cừ)

Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:

Theo khoản 1 điều 27 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng. Theo đó tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản. Cụ thể là:“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”

Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và dịnh đoạt ( khoản 2 Điều 219 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 28 luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Như vậy về nguyên tắc vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản cũng như trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất.

 

Hôn nhân giải thích theo Nhân học

0

Trong tiếng Việt, theo Đòan Văn Chúc, Hôn nhân được ghép bởi hai từ gốc Hán là hôn và nhân. Hôn ((婚) là bố mẹ cô dâu (khác với hôn “昏” là buổi chiều không có bộ nữ “女?”), nhân ((姻) là bố mẹ chú rể. Hôn nhân cũng còn gọi là việc giá thú, được ghép từ hai từ Hán-Việt, trong đó giá (嫁) là việc lấy chồng, thú (娶) là việc lấy vợ. Theo ngữ nghĩa trên, khi gọi là hôn nhân là đứng trên quan điểm của cha mẹ hai bên gia đình lo dựng vợ gả chồng cho con, còn khi gọi là giá thú là trên quan điểm của đôi trai gái lấy nhau làm chồng làm vợ để lập thành gia đình. Như vậy, hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì, củng cố và phát triển gia đình. Trên thực tế, hôn nhân vừa liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến cuộc sống của mỗi cá nhân, vừa là biểu hiện sinh động của sắc thái văn hóa tộc người. Cho nên, hôn nhân không chỉ là sự thừa nhận tính hợp pháp của quan hệ giới tính mà còn mang nhiều ý nghĩa văn hóa-xã hội-kinh tế khác. Vì vậy, hôn nhân luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học thuộc lĩnh vực xã hội-nhân văn. Bài nghiên cứu này, dưới góc độ lý thuyết và các dẫn liệu Nhân học nhằm bàn thêm về những đặc tính văn hóa-xã hội-kinh tế của hôn nhân.

Hôn nhân là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên. Hôn nhân đáp ứng một trong những yêu cầu cơ bản của nhân lọai là tái sản xuất con người. Con người khi cơ thể trưởng thành, bản năng tình dục sẽ thúc dục hai giống tính khác nhau xích lại gần nhau để sinh sản, bảo tồn nòi giống và do đó hình thành mối giây tử hệ (filiation) mà trong đó con cháu được thừa hưởng (di truyền) di sản sinh lý của cả cha và mẹ. Không ai thay đổi được điều tự nhiên ấy. Đứng trước tử hệ những yếu tố nhân văn-xã hội của con người phải nhường ưu thế định đọat cho sinh lý tự nhiên.

_Nhưng quan hệ giới tính (mating) để sinh sản ra con người theo nghĩa sinh vật thì không cần có hôn nhân cũng vẫn thực hiện được. Hôn nhân không đồng nghĩa với quan hệ giới tính ở chỗ trong hôn nhân không phải đối với bất kỳ ai cũng có thể xích lại gần. Quan hệ hôn nhân giới hạn và xác định những người đàn ông, đàn bà nào được phép hay không được phép lấy nhau làm vợ làm chồng. Sự giới hạn ấy hoàn toàn do yếu tố văn hóa của con người chi phối, nó không phụ thuộc vào yếu tố sinh lý tự nhiên.

 

http://mercedes-benz.com.vn Địa chỉ tin cậy cho sản phẩm, dịch vụ Xe ô tô du lịch ở Việt Nam.

Hôn nhân từng là phương thức tạo dựng mạng lưới liên minh xã hội

0

Trong hôn nhân, không chỉ liên quan giữa những người kết hôn, được thừa nhận có quan hệ giới tính với nhau, mà còn tạo dựng nên mạng lưới quan hệ xã hội với qui mô rộng lớn. Các quan hệ này được gọi là các quan hệ thông gia (quan hệ tạo nên qua hôn nhân), tương phản với quan hệ huyết thống (ruột thịt). Chỉ riêng quan hệ tính giao không tạo nên quan hệ với họ hàng bên chồng hay bên vợ, cũng không tạo nên quy tắc để xác định tư cách thành viên của con cháu trong nhóm xã hội nào đó.

Từ thủa sơ khai, trong xã hội bộ lạc, trước khi có nhà nước, các bộ lạc thường đối địch cạnh tranh với nhau. Xã hội được hiểu chỉ bao gồm hai nửa. Một nửa là “ta”, là “người mình” hay “đồng minh” và nửa kia là “nó” là “người khác” hay “đối phương”. Hôn nhân đã là cách tốt nhất để liên kết, biến “người khác” hay “đối phương” thành “người mình” hay “đồng minh”, là cách thức mà con người dùng để thiết lập mối quan hệ với bên ngoài, biến “người khác” thành “người mình” để giữ gìn sự ổn định.

Ở Việt Nam, tập tục hôn nhân 3 đăm (dòng họ) của người Thái ở Tây Bắc hay tục hôn nhân liên minh từ 3 mu (dòng tộc) trở lên của người Vân Kiều ở Lệ Thủy – Quảng Bình, Vĩnh Linh –Quảng Trị là những thí dụ sinh động về ý nghĩa liên minh xã hội của hôn nhân.

Ở người Thái mỗi tông tộc được gọi là một đăm, nguyên tắc ngoại hôn cấm có quan hệ hôn nhân trong khuôn khổ một đăm. Nguyên tắc này bắt buộc, nếu như người đàn ông của đăm A lấy một người đàn bà của đăm B làm vợ thì người đàn ông đăm B không được lấy đàn bà của đăm A làm vợ mà phải đi tìm người đàn bà của đăm C lấy làm vợ. Người đàn ông Thái gọi tất cả họ hàng bên vợ là “lúng ta”, còn người đàn bà gọi họ hàng nhà chồng là “nhính sao”. Theo qui luật vòng tròn một chiều như thế, quan hệ lúng ta – nhính sao liên quan tới ba đăm, tạo thành một chuỗi mặt xích.

Trong đó tất cả đàn ông đăm A có quyền lấy tất cả đàn bà đăm B (đàn ông đăm A là nhính sao, đàn bà đăm B là lúng ta), tất cả đàn ông đăm B có quyền lấy tất cả đàn bà đăm C (đàn ông đăm B là hính sao, đàn bà đăm C là lúng ta), tất cả đàn ông đăm C có quyền lấy tất cả đàn bà đăm A (đàn ông đăm C là nhính sao, đàn bà đăm A là lúng ta) [xem sơ đồ]. Trong một chuỗi các mắt xích của các đăm hợp thành liên minh hôn nhân thì mỗi đăm lần lượt phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo quan hệ hôn nhân với 2 đăm khác. Tình hình ở người Vân Kiều cũng tương tự (xem sơ đồ dưới đây) Ngày nay, sự liên minh này là để mở rộng đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.

Nhưng trước kia, sự liên minh ấy có ý nghĩa rộng lớn và đa dạng hơn nhiều. Về mặt kinh tế, ý nghĩa của nó là mở rộng không gian sinh tồn. Tham gia liên minh với 2 “đăm” hay “mu” khác, mỗi một “đăm” hay “mu” như vậy có thể sử dụng đất đai, tài sản rừng của 2 “đăm” hay “mu” thành viên của liên minh. Trên lĩnh vực tự vệ, mỗi một “đăm” hay “mu” cũng nhận được sự hỗ trợ từ 2 “đăm” hay

“mu” liên minh để tăng cường sức mạnh tự vệ, một vấn đề rất cần thiết cho cuộc sống ngày trước. Và các mối liên hệ kinh tế, xã hội đó luôn được củng cố thường xuyên bằng các mối giây liên hệ tín ngưỡng – tôn giáo.

Ý nghĩa liên minh xã hội của hôn nhân còn được thể hiện qua việc chọn lựa đối tượng kết hôn. Trong xã hội truyền thống của người Việt, hôn nhân là việc của hai bên cha mẹ, hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái. Có thể lý giải rằng tục lệ này xuất phát từ quyền lợi tập thể, mà trước hết là quyền lợi của gia tộc. Đối với tộc người Việt, vì quyền lợi của gia tộc mà việc duy trì dòng dõi là hết sức quan trọng, nên khi xem xét đến con người trong hôn nhân, trước hết người ta quan tâm đến khả năng sinh sản của người con gái. Vì vậy, kén dâu, lấy vợ thì phải chọn người con gái lưng chữ cụ (具) vú chữ tâm (心), phải là:

“Đàn bà đáy thắt lưng ong

Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con”

Rất nhiều trường hợp chọn đối tượng kết hôn trong tầng lớp quí tộc hay vua chúa là để thực hiện một chiến lược liên kết nào đấy. Như __________các vua chúa thời phong kiến Việt Nam thường gả các

công chúa cho các thủ lĩnh của các tộc người ở miền rừng núi biên cương để thắt chặt mối quan hệ giữa triều đình với các tộc người đó, làm cho họ trở thành “phên dậu” của triều đình trong chiến lược phòng thủ đất nước. Vì vậy, GS, TSKH Trần Ngọc Thêm đã có lý khi nhận xét rằng: “Nhìn chung, lịch sử truyền thống hôn nhân của Việt Nam luôn là lịch sử hôn nhân vì lợi ích của tập thể, của cộng đồng: Từ những cuộc hôn nhân nổi danh như Mỵ Châu với Trọng thủy, công chúa Huyền Trân với vua Chăm Chế Mân, công chúa Ngọc hân với Nguyễn Huệ…, rồi vô số những cuộc hôn nhân của các con vua cháu chúa qua các triều đại được triều đình gả bán cho tù trưởng các miền biên ải nhằm củng cố đường biên giới quốc gia; cho đến tuyệt đại bộ phận các cuộc hôn nhân vô danh của thường dân – tất cả đều là làm theo ý nguyện của các tập thể cộng đồng lớn nhỏ, lớn là quốc gia, nhỏ là gia tộc”.

Tóm lại, hôn nhân là việc kết hợp tính giao giữa nam và nữ, nhưng không ở đâu, bất kỳ quốc gia nào, dù là khác nhau về chế độ chính trị xã hội, lại đồng nhất hôn nhân với quan hệ tính giao. Hôn nhân mang ý nghĩa văn hóa, là tiếng nói văn hóa của con người can thiệp vào tự nhiên và mang những đặc tính xã hộikinh tế sâu sắc. Tùy thuộc vào điều kiện xã hội và những yếu tố văn hóa tộc người mà hôn nhân diễn ra theo nhiều hình thái khác nhau, vừa phản ảnh qui luật chung nhất sự phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử, vừa mang những đặc thù văn hóa tộc người, thong qua các sự kiện và quá trình dẫn đến việc kết hôn, hình thành một gia đình mới. Vì vậy, từ khi xuất hiện, hôn nhân luôn luôn là đối tượng của sự kiểm soát xã hội. Trong các xã hội chưa có luật pháp, hôn nhân chịu sự kiểm soát của tập quán pháp hay luật tục, còn trong xã hội có giai cấp hôn nhân luôn là đối tượng của luật pháp.

Khái niệm hôn nhân và ý nghĩa của hôn nhân

0

Khái niệm hôn nhân và ý nghĩa của hôn nhân

  “Những yếu tố chính làm nên hạnh phúc ở đời là có việc gì đó để làm, có ai đó để yêu và có điều gì đó để hi vọng” (C.Fericberg ). Tình yêu làm người ta buồn chán, mất ăn mất ngủ vì tình yêu rồi người ta lại hân hoan sung sướng vì tình yêu và để giấc mộng vàng thành hiện thực người ta kết hôn và sống với nhau dưới một mái nhà. Nhưng khi sống trong căn nhà hạnh phúc, cả người đàn ông lẫn người đàn bà đều không hiểu phải làm những việc gì để chung lo cuộc sống, nhiệm vụ riêng của họ là gì ? họ không hề có một khái niệm nào về hôn nhân cũng như chưa từng được dạy cách lấy vợ lấy chồng như thế nào ? ăn ở với nhau ra sao? Và theo cảm tính của tình yêu họ ràng buộc nhau, bắt phải sống giống nhau, khi không còn chịu đựng áp lực của nhau  được nữa họ đành chia tay.

Vậy hôn nhân là gì?

          Hôn nhân là sự tạo lập cuộc sống chung hoàn toàn của một người đàn ông và một người đàn bà, sự sống chung hoàn toàn này gồm những thành phần vật chất: ở chung dưới một mái nhà, ăn cùng một mâm, hưởng chung những sung sướng vật chất, đồng lao cộng khổ để cùng trở nên hạnh phúc, cùng có đủ mọi nhu cầu của cuộc sống. Nhờ có tình yêu thương gắn bó nên những tiền của và những thắng lợi của chồng cũng coi như của chính người vợ và ngược lại người chồng cũng luôn hiểu rằng “của chồng, công vợ”. Không có một sự ghen tuông nào chia rẽ được họ cả. Họ cùng đồng lao cộng khổ với nhau, người này làm lợi người kia sung sướng. Do một sự ngẫu hợp của hoàn cảnh, họ ngẫu nhiên gặp nhau và khi cảm thấy hợp nhau, yêu nhau họ dẫn đến cái tất nhiên là lấy nhau và cùng ăn đời ở kiếp với nhau.

 

 

Hạnh phúc là gì

0

Hạnh phúc là gì?

Trong cuộc sống của mỗi người, ai cũng hướng tới mục đích mưu cầu hạnh phúc. “Quyền được mưu cầu hạnh phúc” là một trong những quyền con người đã được nêu lên trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Độc lập của nước ta năm 1945. Đây không chỉ là vấn đề chính trị và đạo đức, mà còn là một vấn đề triết học; nó đã được đặt ra từ thời cổ đại và được tranh luận trong suốt lịch sử phát triển của triết học. Tìm hiểu cuộc tranh luận đó là việc làm cần thiết để có được những quan niệm đúng đắn về vấn đề này, bởi lẽ đây là vấn đề có ý nghĩa lớn trong việc xác định lẽ sống cho mỗi người, nhất là đối với việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn

hiện nay.

Ở Ấn Độ cổ đại, chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo đòi hỏi cá nhân người tu hành phải hy sinh những ham muốn, dục vọng đời thường, dấn thân vào việc tu luyện khắc khổ để mong được giải thoát khỏi kiếp đời đau khổ nơi trần gian.

Nó xuất phát từ triết lý trong Kinh Vêđa rằng, mọi đau khổ của con người đều xuất phát từ những ham muốn dục vọng cá nhân; chúng làm cho linh hồn cá thể (atman) mãi mãi gắn bó với thể xác trong một vòng luân hồi bất tận, là cái nghiệp gây ra hậu quả đau khổ ở kiếp sau. Nó có nhiều biểu hiện đa dạng, từ việc hạn chế ăn uống cho đến việc từ bỏ quan hệ tính dục. Ngoài ra, chủ nghĩa này còn có những biểu hiện cực đoan khác như suốt đời chỉ sử dụng một tay hoặc một chân; không dùng vải che thân… Tất cả những việc làm đó đều chỉ nhằm một mục đích duy nhất là mưu cầu sự bất tử và hạnh phúc vĩnh cửu cho linh hồn cá nhân người tu hành. Mục đích này có lẽ là điều hấp dẫn nhất của

tất cả mọi tôn giáo trong lịch sử. Tuy nhiên, suy cho cùng, đây chỉ là điều mong ước chủ quan của con người, trái với quy luật khách quan và tính khả thi của nó không có gì chứng thực được. Nhà thiên văn học Mỹ nổi tiếng Carl Sagan đã có câu nói chí lý: “Thà rằng sự thật nghiệt ngã còn hơn điều tưởng tượng để an ủi”.

Đối lập với chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, phái Charvaka (còn gọi là Lokayata) – một trào lưu triết học duy vật vô thần ở Ấn Độ cổ đại – lại bác bỏ ảo tưởng ở kiếp sau, phản đối phương pháp tu luyện khổ hạnh. Họ khẳng định: quan niệm cho rằng những khoái lạc gắn với những sự vật cảm tính là không tránh khỏi đi liền với những đau khổ là những lý lẽ ngu ngốc. Nó cũng giống như bảo rằng chúng ta hãy ném bỏ những hạt thóc đi vì chúng gắn liền với cái vỏ trấu và bụi đất; không có thiên đường, không có sự giải thoát, không có linh hồn ở thế giới khác; không có nghiệp báo; không ai có thể thoát khỏi cái chết. Khi đã có cuộc sống thì bạn hãy sống một cách vui vẻ.

Quan điểm này, về cơ bản là đúng, nhưng còn mang tính chất thô thiển nên bị các khuynh hướng tôn giáo chống đối mãnh liệt và bị coi là một thứ chủ nghĩa khoái lạc.

Ở Trung Hoa, Việt Nam và một số nước khác, trong suốt thời kỳ phong kiến, tuy không biết đến biểu hiện cực đoan của chủ nghĩa khổ hạnh hay chủ nghĩa khoái lạc, nhưng lối sống của xã hội cũng chịu ảnh hưởng của hai khuynh hướng đối lập nhau. Trước hết là khuynh hướng nhập thế của Nho gia, chủ trương người trí thức phải học hành đến nơi đến chốn và đem tài năng của mình ra giúp đời, giúp nước. Hạnh phúc lớn nhất của người quân tử là được cống hiến cho xã hội, lập được công danh. Khổng Tử đã từng phân biệt quan niệm về hạnh phúc của người quân tử với quan niệm của kẻ tiểu nhân. Ông nói: “Quân tử nghĩ đến đức, tiểu nhân nghĩ đến chỗ ở; quân tử quan tâm đến phép tắc, tiểu nhân quan tâm đến ân huệ”(1).

Ngược lại, những người theo phái Đạo gia (do Lão Tử sáng lập, Trang Tử phát triển) đã coi hạnh phúc cá nhân là ở cuộc sống vô vi, nhàn hạ, hòa hợp với tự nhiên. Sống hạnh phúc là sống thanh đạm, biết đủ, biết dừng, không tham lam, không bon chen, không cạnh tranh. Lối sống này cũng trở thành lối sống của nhiều người trí thức khi chưa gặp thời hoặc khi đã hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội.

Hai quan niệm về hạnh phúc của Nho gia và Đạo gia, tuy đối lập nhau về cơ bản, nhưng cũng có những khía cạnh tương đồng, như coi khinh và phản đối lối sống chạy theo lợi ích vật chất tầm thường, ích kỷ của cá nhân, gắn hạnh phúc với đạo đức, phản đối việc mưu cầu hạnh phúc bằng con đường bất chính… nên cả hai quan niệm đều được những người trí thức phương Đông, trong đó có những người trí thức Việt Nam, vận dụng trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.

hoc trang diem Khách hàng luôn hài lòng với chất lượng sản phẩm chúng tôi mang lại.

Hãy thể hiện sự quan tâm của bạn đến người phụ nữ bạn yêu

0

        Đôi khi đàn ông rất tự phụ và chỉ quan tâm đến bản thân mình. Người đàn ông không chủ ý như vậy và các bạn thường ngạc nhiên khi nhận ra điều đó vì họ thực sự có ý định tốt đẹp. Nhưng phần lớn những người đàn ông đều không hình thành thói quen quan tâm đến nhu cầu của người khác như người phụ nữ vẫn làm và do đó, họ dễ dàng rơi vào tình trạng ích kỷ mà không hề nhận ra điều đó.

        Đó là lý do mà người đàn ông nên thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống của người bạn đời nhiều hơn. Phụ nữ sẽ cảm thấy họ được đánh giá cao nếu được đàn ông quan tâm. Dưới đây là một số gợi ý:

        – Chú ý đến những gì đang xảy ra với cô ấy.

        Bạn có biết rằng, nếu như một nguời phụ nữ tham gia vào một chương trình ti vi với chồng mình và một người bạn gái thân của cô ấy, người bạn gái của cô ấy sẽ nhận được giải thưởng nếu như cuộc thử nghiệm là về việc ai trong số hai người (người chồng và người bạn gái) biết nhiều hơn về cô ấy. Đó là vì người bạn của cô ấy có thể để tâm nhều hơn đến những gì đang xảy ra với cô ấy một cách chi tiết hơn người chồng. Quan tâm đến những gì các bạn yêu quý chính là sự thâm nhập vào thế giới nội tâm của người phụ nữ.

        – Hãy hỏi cô ấy về những hành động quan trọng đối với cô ấy.

        – Hãy hỏi cô ấy về những sự kiện mới diễn ra với cô ấy.

        – Hãy cùng cô ấy xem xét lại khi những sự kiện đó đã diễn ra.

        – Hãy đưa ra những vấn đề mà bạn biết rằng cô ấy đang muốn trao đổi.

        – Hãy hỏi xem cô ấy đang nghĩ gì và cảm thấy như thế nào.

        Khi bạn hỏi người bạn đời của bạn: “Em cảm thấy thế nào?” hay “Em đang nghĩ về điều gì vậy?”, bạn đã gửi cho cô ấy một thông điệp rằng những suy nghĩ và tình cảm của cô ấy rất quan trọng đối với bạn, rằng bạn tôn trọng và đánh giá cao những điều đó cũng như tôn trọng và đánh giá cao giá trị của cô ấy.

        Đưa ra những câu hỏi như thế này là một trong những phương pháp đơn giản nhất để thể hiện sự quan tâm của bạn tới cuộc sống của cô ấy. Cô ấy sẽ thực sự nhận thức được sự cố gắng của bạn và bạn có thể khám phá ra được rất nhiều điều về cô ấy mà bạn chưa từng biết đến.

 

Giá tiệc cưới luôn là nỗi lo của cô dâu chú rể

Lễ cưới là dịp trọng đại của các cặp đôi. Đi cùng với đó là bao nỗi lo đến với các cô dâu chú rể. Trong số đó, giá tiệc cưới luôn là vấn đề quan trọng cần phải lưu tâm hàng đầu. Ngày nay, khi mà các nhà hàng tiệc cưới mở ra ngày càng nhiều thì các cặp đôi cũng có thêm nhiều sự lựa chọn với nhiều mức giá tiệc cưới đa dạng. Tuy nhiên, để ước tính chi phí chính xác và hợp lý nhất, bạn nên tìm đến sự trợ giúp của đội ngũ tư vấn tại các nhà hàng uy tín như Riverside Palace. Đội ngũ này sẽ giúp bạn lựa chọn cách thức tổ chức tiệc cưới phù hợp nhất với ngân sách của mình. Đây cũng là điểm mấu chốt giúp cho các cặp đôi giảm bớt sự lo lắng, đồng thời lễ cưới của bạn sẽ trở nên hoàn hảo hơn, ngọt ngào hơn.

để giá tiệc cưới không còn là nỗi lo

.

Hello world!

1

Welcome to WordPress. This is your first post. Edit or delete it, then start writing!