Chế độ tài sản chung của vợ chồng

0
12

Chế độ tài sản của vợ chồng có thể được hiểu như sau:

“ Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng thể các quy phạm pháp luật diều chỉnh về ( sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật”(Theo: “chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”- TS. Nguyễn Văn Cừ)

Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng:

Theo khoản 1 điều 27 luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng. Theo đó tài sản chung của vợ chồng phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản. Cụ thể là:“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”

Đối với tài sản chung của vợ chồng thì vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và dịnh đoạt ( khoản 2 Điều 219 BLDS 2005 và khoản 1 Điều 28 luật hôn nhân và gia đình năm 2000). Như vậy về nguyên tắc vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, phát triển và duy trì khối tài sản cũng như trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất.